Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?Cho tôi hỏi, sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Sử dụng bitcoin để thanh toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt bao nhiêu tiền? Nhờ anh chị giải đáp.Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Căn cứ quy định Điều 206 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 48 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như sau:
Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?Cho tôi hỏi, sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Sử dụng bitcoin để thanh toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt bao nhiêu tiền? Nhờ anh chị giải đáp.Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Căn cứ quy định Điều 206 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 48 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như sau:
Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:.....h) Phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả;i) Kinh doanh vàng trái phép hoặc kinh doanh ngoại hối trái phép;k) Tiến hành hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng.2. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.4. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Căn cứ quy định khoản 6, khoản 7 Điều 4 Nghị định 101/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP quy định như sau:
Giải thích từ ngữTrong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:....6. Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.7. Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không thuộc quy định tại khoản 6 Điều này......
Như vậy, việc sử dụng bitcoin để làm phương tiện thanh toán là không phù hợp theo quy định của pháp luật do bitcoin không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp.
Do đó người nào có hành vi sử dụng bitcoin để thanh toán mà gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Hình phạt đối với tội này là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm tuỳ vào mức độ tội phạm.
Bên cạnh đó người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Sử dụng bitcoin để thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? (Hình từ Internet)
Trường hợp sử dụng bitcoin để thanh toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt bao nhiêu tiền?
Căn cứ quy định Điều 26 Nghị định 88/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 15 Điều 1 Nghị định 143/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm quy định về hoạt động thanh toán như sau:
Vi phạm quy định về hoạt động thanh toán.....6. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:a) Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cho phép khách hàng sử dụng tài khoản thanh toán không đúng quy định của pháp luật trong quá trình cung ứng dịch vụ thanh toán;b) Thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán, mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 10 tài khoản thanh toán trở lên mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;c) Làm giả phương tiện thanh toán, lưu giữ, lưu hành, chuyển nhượng, sử dụng phương tiện thanh toán giả mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;d) Phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;đ) Hoạt động không đúng nội dung chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước về việc cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng.....9. Hình thức xử phạt bổ sung:Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 5 và điểm c, d khoản 6 Điều này.10. Biện pháp khắc phục hậu quả:a) Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 và khoản 8 Điều này;b) Không cho mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động trong thời gian chưa khắc phục xong vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, c, d khoản 6, điểm c khoản 7 và điểm a khoản 8 Điều này;c) Đề nghị cấp có thẩm quyền thu hồi văn bản chấp thuận hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng đối với hành vi vi phạm tại điểm đ khoản 6 Điều này.
Như vậy, trường hợp sử dụng bitcoin để thanh toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Lưu ý: Mức phạt tiền quy định trên đây là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân; mức phạt tiền đối với tổ chức có cùng một hành vi vi phạm hành chính bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Bên cạnh đó người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp và không cho mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động trong thời gian chưa khắc phục xong.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng bitcoin để thanh toán là bao lâu?
Căn cứ quy định khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như sau:
Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.Vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế;...
Như vậy, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng bitcoin để thanh toán là 01 năm.
LS TRẦN MINH HÙNG, LS GIỎI,UY TÍN THƯỜNG XUYÊN ĐƯỢC TRUYỀN HÌNH HTV, TRUYỀN HÌNH QUỐC HỘI VIỆT NAM, TRUYỀNHÌNH CÔNG AN ANTV, VTV, TÂY NINH, BÌNH DƯƠNG, CẦN THƠ, ĐỒNG NAI, VOV, VOH, VTC,SCTV, VOH, BÁO CHÍ TRÊN CẢ NƯỚC PHỎNG VẤN, TƯ VẤN...
| ĐOÀN LUẬT SƯ TP.HCM VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH ĐT: 028.38779958 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc Văn phòng luật sư Gia Đình là một hãng luật được quyền cung cấp dịch vụ pháp lý là luật sư tư vấn pháp luật thường xuyên trên Đài Truyền hình HTV7, HTV9, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình cáp VTC, Truyền hình Cần Thơ, Đài VOV Giao Thông, SCTV, Truyền hình Công an ANTV, Truyền hình Quốc hội Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo công an nhân dân, Báo Công an nhân dân, Thanh Niên, Báo pháp luật… và nhiều hãng báo chí khác... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Là Luật sư bào chữa, tư vấn, bảo vệ cho nhiều vụ án trên mọi lĩnh vực… |
QUAN ĐIỂM CỦALS TRẦN MINH HÙNG – LS VPLS GIA ĐÌNH BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO TRẦN NGỌC HOÀNG TRONGVỤ ÁN “CƯỚP TÀI SẢN”.
Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo TrầnNgọc Hoàng về tội danh Cướp tài sản theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 168Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với tình tiết “Chiếm đoạt tài sảntrị giá 500.000.000 đồng trở lên” là không có cơ sở, trái với quy định phápluật. Bởi các lẽ sau:
Thứ nhất: Bitcoin không phải là tài sản
1. Theo quy định pháp luật dân sự, Bitcoin không đượcxem là tài sản, cụ thể như sau:
Căn cứ điều 105 BLDS 2015:
“1. Tài sảnlà vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sảnbao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sảnhiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất tồn tại dướidạng rắn, lỏng, khí và con người có thể chiếm hữu, kiểm soát được. Do đó, cácđồng tiền mã hóa (tiền ảo) không phải là vật.
Căn cứ khoản 2 điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010:
“Đồng tiềncủa quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sửdụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ); …”
Theo quy định này, các đồng tiền mã hóa (tiền ảo)không phải là tiền tệ do không được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành vàkhông phải là ngoại tệ do không phải là đồng tiền chính thức của bất cứ quốcgia nào.
Căn cứ khoản 1 điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày22/02/2012 sửa đổi bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 củaChính phủ về giao dịch bảo đảm:
Giấy tờ cógiá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉtiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật,trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.
Nên các đồng tiền mã hóa (tiền ảo) không phải là giấytờ có giá.
Căn cứ điều 115 BLDS 2015:
“Quyền tàisản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượngquyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”
Do đó các đồng tiền mã hóa (tiền ảo) không phải làquyền tài sản.
Tiền ảo không thuộc 1 trong 4 loại nêu trên nên tiềnảo không được coi là tài sản. Như vậy theo quy định pháp luật dân sự, các đồngtiền mã hóa/ tiền ảo như Tron, Bitcoin, Bittoren.. không phải là tài sản.
2. Các cơquan Nhà nước cũng có các Công văn trả lời về việc Bitcoin có được xem là tàisản hay không, cụ thể như sau:
- Công văn số60/CSHS ngày 18/6/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an về đềnghị phối hợp cung cấp thông tin, bút lục 837.
Tóm tắtcông văn số 60/CSHS: Để phụcvụ yêu cầu điều tra xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đề nghị Ngânhàng Nhà nước Việt Nam cho biết, Tiền điện tử TRX(Tron), BTT(bittorent), BTC(Bitcoin), ETH (Ethereum) có được Nhà nước công nhận là tài sản theo quy địnhtại điều 105 BLDS 2015 hay không. Nếu được coi là tài sản thì được định giá nhưthế nào. Cơ quan nào có thẩm quyền định giá và quy đổi.
- Công văn số5027/NHNN-TT ngày 09/7/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việcphối hợp cung cấp thông tin phục vụ công tác điều tra, bút lục 838.
Tóm tắtcông văn số 5027/NHNN-TT: Trên cơsở Công văn số 11633/VPCP-KTTH ngày 29/11/2018 của Văn phòng Chính phủ về báocáo về việc rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật, thực tiễn về tàisản ảo, tiền ảo, Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ “xây dựng văn bản quy phạmpháp luật về tài sản ảo, tiền ảo”. Do đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề nghị Cơquan Cảnh sát điều tra – Bộ Công án tham khảo ý kiến của Bộ Tài chính đối vớivấn Đề quản lý, quy định việc kinh doanh, giao dịch tài sản mã hóa, tiền mãhóa/ tiền ảo.
- Trong văn bản gửi các cơ quan báo chí ngày28/10/2017, Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định căn cứ vào quy định pháp lý hiệnhành (Nghị định số 80/2016/NĐ-CP sửa đổi,bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 củaChính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt), Bitcoin và các loại tiền ảo tươngtự khác không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.
3. Một số ghi nhận chính thức về mặt chính sách, phápluật liên quan đến tiền ảo:
Thông cáo báo chí về bitcoin và các loại tiền ảo tươngtự khác ngày 27/02/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
·Khẳng định Bitcoin là một dạng tiền kỹ thuật số (tiền ảo),không được phát hành bởi chính phủ hay một tổ chức tài chính, mà được tạo ra vàvận hành dựa trên hệ thống các máy tính kết nối mạng internet ngang hàng.
·Khẳng định các giao dịch bằng Bitcoin có tính ẩn danhcao nên Bitcoin có thể trở thành công cụ cho tội phạm như rửa tiền, buôn bán matúy, trốn thuế, giao dịch, thanh toán tài sản phi pháp.
·Việc sử dụng Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tựkhác) làm phương tiện thanh toán không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Cáctổ chức tín dụng không được phép sử dụng Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tựkhác) như một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán khi cung ứng dịch vụ chokhách hàng.
·Việc sở hữu, mua bán, sử dụng bitcoin (và các loại tiềnảo tương tự khác) như một loại tài sản tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho người dânvà không được pháp luật bảo vệ.
- Quyết định số 1255/QĐ-TTg ngày 21/8/2017 về phêduyệt đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sảnảo, tiền điện tử, tiền ảo.
(Quyết định là cơ sở pháp lý quan trọng, đặt nền móngcho việc nghiên cứu và ban hành các quy định pháp luật liên quan đến tiền ảotrong tương lai tại Việt Nam).
Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 11/4/2018 về tăng cường quảnlý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác.
(Trên cơ sở những cảnh báo nguy cơ ảnh hưởng tiêu cựccủa hoạt động liên quan đến tiền ảo, Chỉ thị đã yêu cầu các Bộ, ngành có liênquan thực hiện việc quản lý các hoạt động liên quan đến tiền ảo nhằm hạn chếnhững rủi ro, hệ lụy cho xã hội; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hànhvi vi phạm pháp luật).
- Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 13/4/2018 về các biệnpháp tăng cường kiểm soát các giao dịch, hoạt động liên quan đến tiền ảo.
(Chỉ thị đưa ra yêu cầu các đơn vị có liên quan (cáctổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; các đơn vịtại trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngân hàng Nhà nước chi nhánh cáctỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) nghiêm túc thực hiện các biện pháp cụthể nhằm tăng cường kiểm soát, xử lý các giao dịch liên quan tới tiền ảo).
4. Các quyđịnh trong lĩnh vực pháp luật tiền tệ và ngân hàng:
Căn cứ khoản 2 điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước ViệtNam 2010 quy định: Tiền giấy, tiền kimloại do Ngân hàng Nhà nước phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trênlãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Căn cứ khoản 6, 7 điều 4 Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày22/11/2012 của Chính phủ về việc thanh toán không dùng tiền mặt (được sửa đổi,bổ sung bởi Nghị định 80/2016/NĐ-CP) quy định:
“6. Phươngtiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đâygọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu,ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy địnhcủa Ngân hàng Nhà nước.
7. Phươngtiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không thuộc quyđịnh tại khoản 6 Điều này.”
- Căn cứ khoản 6 điều 6 Nghị định 101/2012/NĐ-CP (đượcsửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 80/2016/NĐ-CP) quy định về các hành vi bị cấm:
“6. Pháthành, cung ứng và sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp.”
- Công văn số 5747/NHNN-PC của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam ngày 21/7/2017 gửi Văn phòng Chính phủ đã khẳng định:
“Tiền ảonói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng không phải là tiền tệ và không phải làphương tiện thanh toán hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc pháthành, cung ứng và sử dụng tiền ảo nói chung và Bitcoin, Litecoin nói riêng(phương tiện thanh toán không hợp pháp) làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toánlà hành vi bị cấm. Chế tài xử lý hành vi này đã được quy định tại Nghị định96/2014/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiềntệ và ngân hàng và Bộ luật Hình sự 2015 (đã sửa đổi, bổ sung).”
Như vậy, tại Việt Nam, Bitcoin không phải là tài sảnvà chưa có quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động phát hành, mua bán, trao đổitiền ảo, tài sản ảo, cũng chưa quy định đơn vị chính thức quản lý việc pháthành và giao dịch các đồng tiền ảo, tài sản ảo. Tại việt nam cũng cấm quy đổi,định giá tiền ảo bitcoin.
Thứ hai: pháp luật nghiêm cấm Bitcoin không được định giá, không đượcquy đổi nên không định giá được, không quy đổi được nên không định lượng, dovậy không có căn cứ xét xử các bị cáo khoản 4, điều 170 BLHS, SĐ, BS 2017.
Hiện nay, vẫn chưa thể xác định, định lượng cụ thể củasố tiền các bị cáo chiếm đoạt. Đồng tiền Bitcoin không được xem là tài sản nênkhông thể tiến hành định giá, quy đổi, định lượng giá trị được. Bởi tội cưỡngđoạt tài sản thì phải định lượng để định khung, để định lượng thì phải định giá,mà vụ án này đến thời điểm này không thể định giá hợp pháp được. Không thể quyđổi từ các đồng tiền ảo TRX, BTC, BTT, ETH với đồng tiền ảo USDT để quy đổi giữađồng USDT với VNĐ trên trang wed coingecko.com vào lúc 13h ngày 17/5/2020 (thờiđiểm Tài thực hiện giao dịch chuyển tiền) các đồng tiền ảo có giá trị1.593.622,36USDT tương đương 37.140.962.620vnđ là không có căn cứ.
Bên cạnh đó, Không có căn cứ hoặc bất kỳ văn bản địnhgiá nào của cơ quan chức năng có thẩm quyền thể hiện số tiền các bị cáo chiếm đoạtđược định giá là hơn 37 tỷ đồng. Cụ thể:
- Công văn số159/CSHS-P6 ngày 01/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an vềđề nghị cung cấp thông tin về tiền ảo, bút lục 843.
Tóm tắtcông văn số 159/CSHS-P6: sau khichiếm đoạt tiền ảo của anh Lê Đức Nguyên, Hồ Ngọc Tài cùng đồng bọn đã bán cácđồng tiền ảo gồm TRX, BTT, BTC, ETH trên sàn Binance để lấy tiền Việt Nam đồngchia nhau. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an đề nghị Bộ Tài chính cung cấpthông tin về tiền ảo: Hiện nay, việc định giá, quy đổi tiền ảo ra tiền Việt Namđồng được thực hiện dựa trên căn cứ nào, thực hiện ra sao. Tại Việt Nam, cơquan, tổ chức nào có thể định giá, quy đổi các loại tiền ảo này.
- Công văn số13949/BTC-UBCK ngày 12/11/2020 của Bộ Tài chính về việc cung cấp thông tinvề tiền ảo theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bút lục 844.
Tóm tắtcông văn số 13949/BTC-UBCK: Bộ Tàichính cung cấp thông tin về tiền ảo theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tranhư sau, Việt Nam chưa có quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động phát hành, muabán, trao đổi, định giá, quy đổi tiềnảo, tài sản ảo ra tiền Việt Nam đồng, đồng thời chưa quy định đơn vị chính thứcnào quản lý việc phát hành và giao dịch các đồng tiền ảo, tài sản ảo).
- Công văn số536/A05-P6 ngày 29/01/2021 của Cục An ninh mạng và PCTP sử dụng công nghệcao – Bộ Công an về việc phối hợp trao đổi thông tin, tài liệu phục vụ công tácđiều tra, bút lục 846.
Tóm tắtcông văn số 536/A05-P6: Cục Anninh mạng và PCTP sử dụng công nghệ cao – Bộ Công an trao đổi kết quả như sau:Các quốc gia trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về tiền ảo, chưa có sựthống nhất. Hiện tại, chưa có cơ quan,đơn vị, tổ chức quốc tế nào có chức năng, thẩm quyền định giá, quy đổi các loạitiền ảo (bao gồm bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác). Việc định giá, quyđổi các loại tiền ảo phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các cá nhân, tổ chức thựchiện giao dịch. Tại Việt Nam chưa có hành lang pháp lý quy định giá các loạitiền ảo.
Định giátài sản:
- Yêu cầu địnhgiá tài sản số 201/YC – CSHS-P6 ngày 19/4/2022 của Cơ quan Cảnh sát điềutra – Bộ Công an, bút lục 3472.
Tóm tắt yêucầu định giá tài sản số 201/YC-CSHS-P6: yêu cầu định giá số tiền mã hóa (tiền ảo) bao gồm: 105.639.624 TRX;0,15 BTC; 19.333.059 BTT.
- Công văn số2785/HĐĐGTS-QLG ngày 09/5/2022của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tốtụng hình sự cấp thành phốvề yêu cầuđịnh giá tài sản số 201/YC – CSHS-P6 ngày 19/4/2022, bút lục 3473.
Tóm tắtcông văn số 2785/HĐĐGTS-QLG:
Các đồng tiền mã hóa/ tiền ảo là một dạng tiền kỹ thuậtsố, không được phát hành bởi chính phủ hay một tổ chức tài chính, mà được tạora và vận hành dựa trên hệ thống các máy tính kết nối mạng internet ngang hàng.
Hội đồngđịnh giá cấp thành phố từ chối thành lập Hội đồng định giá đối với yêu cầu địnhgiá tài sản số 201/YC – CSHS-P6 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an doyêu cầu định giá là các đồng tiền mã hóa/ tiền ảo không phải là tài sản.
Như vậy, vì đồng tiền ảo không phải là tàisản, KHÔNG QUY ĐỔI ĐƯỢC nên không thể tiến hành định giá được. Do đó, không cócăn cứ để xác định số tiền bị chiếm đoạt là từ 500.000.000 đồng trở lên theoquy định tại Khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự để truy tố các bị cáo khoản 4 làkhông có căn cứ. Căn cứ nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo thì nếu xử lý cácbị cáo thì chỉ có thể xử lý theo khoản 2, điều 170 BLHS với định khung có tổchức, không thể căn cứ khoản 4 vì không thể định lượng được, không định giáđược nên không có căn cứ truy tố các bị cáo vào khoản 4.
Thứ ba:Không đủ căn cứ xác định hành vi mua bán, chuyển Bitcoin qua Sàn Binance, cụthể không có chứng cứ Tài chuyển 33 bitcoin qua sàn này cho Hoàng.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã gửicông văn sang quần đảo Cayman để xác định về tính pháp lý cũng như các tài liệuchứng cứ liên quan đến Sàn Binance nhưng không nhận được bất kỳ văn bản, côngvăn phúc đáp nào. Do đó, không đủ căn cứ để có thể xác định hành vi mua bánBitcoin qua Sàn Binance. Cụ thể:
- Công văn số4344/CSHS-P6 ngày 10/11/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Bộ Công an về đềnghị hỗ trợ phối hợp điều tra vụ án, bút lục 845.
Tóm tắtcông văn số 4344/CSHS-P6: Cơ quanCảnh sát điều tra – Bộ Công an đề nghị Cục An ninh mạng và phòng, chống tộiphạm sử dụng công nghệ cao (A05) hỗ trợ, phối hợp điều tra vụ án như sau: Cácđồng tiền ảo như: TRX (Tron), BTT (Bittorent), BTC (Bitcoin), ETH (Ethereum)được định giá như thế nào. Cơ quan, đơn vị, tổ chức quốc tế nào có chức năng,thẩm quyền định giá, quy đổi các loại tiền này. Tỷ giá quy đổi đồng đô la Mỹ(USD) như thế nào vào lúc 13h ngày 17/5/2020. Cơ quan, tổ chức quốc tế nào làđơn vị chủ quản sàn Binance.com, có trụ sở ở quốc gia nào. Trên sàn Binance.comcòn tồn tại ví điện tử có địa chỉ TVHk4mdQ9UbtKoR163JgAưKbHDu4kvPtnP hay không.Nếu còn tồn tại thì việc xác định lịch sử giao dịch, thông tin giao dịch của víđiện tử địa chỉ nêu trên được thực hiện như thế nào. Có việc ví điện tử đó đãbị xóa hoặc bị vô hiệu hóa tạm thời thì có phục hồi được không.
Sàn Binance.com thuộc tập đoàn Binance có trụ sở chínhtại: Govermors Square #3-21223 Lime Tree Bay GEORGE TOWN, GRAND CAYMAN,KY1-1203, quần đảo Cayman.
- Yêu cầu tươngtrợ tư pháp về hình sự số 1745/UTTPHS-P6 ngày 15/4/2021 của Cơ quan Cảnhsát điều tra Bộ Công an về việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, bút lục824, ủy thác cho Cơ quan có thẩm quyền tương trợ tư pháp hình sự của Quần đảoCayman thuộc Vương quốc Anh thu thập tài liệu chứng cứ về tài khoản mở trên sànBinance.com (được đăng ký qua địa chỉ email: hongoctai1989@gmail.com; mật khẩu: HoDuongBaoChau2014).
- Bản kết luậnđiều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố (bổ sung) số 41/CSHS-P6 ngày20/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, bút lục 3198.
(Đối với yêu cầu làm rõ bị can Hồ Ngọc Tài sau khi gâyán đã xóa hay chỉ tạm khóa tài khoản của Tài mở trên sàn Binance. Tài khoản nàycó thể phục hồi được không để đăng nhập, trích xuất dữ liệu và xác định số tiềnảo còn trong tài khoản.
=> Tài khoản của Hồ Ngọc Tài trên sàn Binance đãngưng hoạt động từ ngày 15/6/2020. Để có căn cứ xác định tài khoản này đã bịxóa hay tạm khóa, ngày 15/4/2021, Cơ quan CSĐT Bộ Công an có Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự số1745/UTTPHS-P6/C02, ủy thác cho Cơ quan có thẩm quyền tương trợ tư pháphình sự của Quần đảo Cayman thuộc Vương quốc Anh xác minh tài khoản của Hồ NgọcTài trên sàn Binance (được đăng ký qua địa chỉ email: hongoctai1989dn@gmail.com; mật khẩu: HoDuongBaoChau2014) đã bị xóa hay đang tạm khóa, đề nghị hỗtrợ phục hồi lại tài khoản (nếu tài khoản bị xóa) hoặc mở khóa kích hoạt lạitài khoản (nếu tài khoản bị khóa) để thu thập lịch sử giao dịch, xác định sốtiền ảo còn lại trong tài khoản. Đến nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an chưa nhậnđược kết quả trả lời từ phía Cơ quan có thẩm quyền tương trợ tư pháp hình sựcủa Quần đảo Cayman thuộc Vương quốc Anh).
Do vậy không có căn cứ Tài chuyển cho Hoàng 33bitcoin, đây chỉ dựa vào lời khai của Tài, không có chứng cứ vật chất xem xét….Nếusau này Quần đảo CayMan trả lời không có việc Tài khoản chuyển chuyển 33bitcoin cho Hoàng thì liệu việc buộc Hoàng nhận 33 bitcoin từ TÀI có căn cứkhông cơ quan tố tụng cần làm rõ.
- (Tại đơn xin khiếu nại, bút lục 3112), Hoàng trìnhbày Tài không chuyển 33 bitcoin choHoàng. 26,8 bitcoin Hoàng bán cho Tấnhoàn toàn không phải là bitcoin của Tài cho Hoàng.
Hoàng trình bày Tài có chuyển tiền vào tài khoản củaHoàng 02 lần, mỗi lần 100 triệu là để tặng cho Hoàng, không phải là để choThông, Phúc và Cường. Hoàng chuyển khoản trả nợ cho Cường vì Hoàng có mắc nợCường. Tài có tặng Thông 50 triệu là Tài đưa tiền mặt cho Hoàng để Hoàng đưacho Thông, Tài không cho tiền Phúc.
- (Tại biên bản hỏi cung bị can ngày 10/5/2022, bútlục 3538), Hoàng khai Hoàng chỉ nhận được từ Tài là 300 triệu đồng và 25.000Torque.
- (Tại biên bản ghi lời khai ngày19/6/2020, bút lục 1538), Hoàng khai Tài nói với mọi người là chỉ
